Chăm sóc sức khỏe cho bé

Lịch tiêm phòng đầy đủ cho bé từ 0 - 24 tháng tuổi mới nhất

cac-mui-tiem-phong-cho-be-theo-thang-thumbnail

Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch là biện pháp quan trọng giúp bảo vệ trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ trước nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, đồng thời giảm nguy cơ mắc bệnh nặng và gặp biến chứng. Cùng Huggies tìm hiểu các mũi tiêm phòng cho bé theo tháng từ 0–12 tháng và 12–24 tháng tuổi trong bài viết dưới đây!

>>> Tham khảo thêm:

Vì sao trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ cần được tiêm phòng đầy đủ?

Hệ miễn dịch của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ vẫn đang phát triển nên khả năng nhận diện và chống lại một số tác nhân gây bệnh còn hạn chế. Vì vậy, trẻ dễ mắc bệnh truyền nhiễm và có nguy cơ gặp biến chứng nặng. Tiêm phòng đầy đủ, đúng lịch mang lại những lợi ích quan trọng như:

  • Giúp phòng ngừa nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm: Vắc xin giúp hệ miễn dịch nhận diện và hình thành trí nhớ miễn dịch đối với một tác nhân gây bệnh hoặc thành phần của tác nhân đó. Nhờ vậy, khi tiếp xúc với virus hoặc vi khuẩn trong tương lai, hệ miễn dịch của trẻ có thể đáp ứng nhanh và hiệu quả hơn. Tùy từng loại vắc xin, tiêm chủng có thể giúp giảm nguy cơ mắc các bệnh như lao, viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, sởi, bệnh do Hib và viêm não Nhật Bản.
  • Giảm nguy cơ bệnh nặng và biến chứng: Không có vắc xin nào bảo vệ tuyệt đối trong mọi trường hợp. Tuy nhiên, hệ miễn dịch đã được chuẩn bị sau tiêm có thể phản ứng nhanh hơn khi trẻ bị phơi nhiễm. Tùy từng bệnh và loại vắc xin, tiêm chủng giúp giảm nguy cơ bệnh diễn tiến nặng, nhập viện hoặc để lại di chứng.
  • Bảo vệ trẻ trong giai đoạn dễ bị tổn thương: Một số bệnh như ho gà, viêm gan B, bại liệt và viêm màng não do Hib có thể xuất hiện từ những tháng đầu sau sinh. Lịch tiêm được xây dựng dựa trên nguy cơ tiếp xúc với bệnh, khả năng đáp ứng miễn dịch theo độ tuổi và thời điểm vắc xin tạo hiệu quả bảo vệ phù hợp. Vì vậy, tiêm đúng lịch giúp trẻ được bảo vệ vào từng giai đoạn phát triển.
  • Giúp hình thành và duy trì mức miễn dịch cần thiết: Với một số vắc xin, liều đầu giúp hệ miễn dịch bắt đầu nhận diện tác nhân gây bệnh, còn các liều tiếp theo giúp tăng cường và duy trì đáp ứng miễn dịch. Một số vắc xin cần thêm liều nhắc do khả năng bảo vệ có thể giảm theo thời gian. Vì vậy, trẻ cần được tiêm đủ số liều và đúng khoảng cách khuyến nghị để đạt hiệu quả bảo vệ tốt nhất.
  • Góp phần hạn chế bệnh lây lan trong cộng đồng: Với nhiều bệnh lây từ người sang người, tiêm chủng có thể làm giảm nguy cơ mắc bệnh và góp phần hạn chế lây truyền. Khi tỷ lệ người có miễn dịch trong cộng đồng đủ cao, mầm bệnh khó lan rộng hơn, qua đó hỗ trợ bảo vệ trẻ chưa đủ tuổi tiêm hoặc không thể tiêm một số vắc xin. Tuy nhiên, lợi ích này không giống nhau ở mọi bệnh. Chẳng hạn, uốn ván không lây trực tiếp từ người sang người nên mỗi trẻ cần được tiêm vắc xin để có khả năng bảo vệ cá nhân.

Vì vậy, bố mẹ nên theo dõi lịch tiêm chủng và đưa trẻ đi tiêm đầy đủ, đúng thời điểm, đúng số liều và khoảng cách khuyến nghị để giúp trẻ hình thành khả năng bảo vệ phù hợp trong từng giai đoạn phát triển.

>>Tham khảo:

tiêm phòng cho trẻ sơ sinh

Tiêm phòng đầy đủ và đúng lịch giúp bảo vệ trẻ sơ sinh trước nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm (Nguồn: Sưu tầm)

Lịch tiêm phòng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ theo từng tháng độ tuổi

Bảng dưới đây được tổng hợp từ lịch tiêm chủng do Bộ Y tế hướng dẫn, Chương trình Tiêm chủng mở rộng và phác đồ sử dụng của một số vắc xin dịch vụ tại Việt Nam. Lịch tiêm cụ thể có thể thay đổi tùy loại vắc xin, độ tuổi, tiền sử tiêm chủng của bé và chỉ định của bác sĩ.

Vắc xin phòng bệnh Tháng Tuổi
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9 12 15 18 2 - 3 4 - 8
Lao Mũi 1
Kháng thể đơn dòng RSV Mũi 1
Viêm gan B** Mũi sơ sinh (24h) Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Mũi 4
Mũi sơ sinh (24h) Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3
Bạch hầu, ho gà, uốn ván Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Mũi 4 Mũi 5
Bại liệt Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Mũi 4 Mũi 5
Viêm phổi, viêm màng não mủ do Hib Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Mũi 4 1 mũi (nếu chưa tiêm chủng)
Tiêu chảy do Rotavirus (Uống) Liều 1 Liều 2 Liều 3*
Viêm phổi, viêm màng não, viêm tai giữa do phế cầu khuẩn Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Mũi 4
Viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi do não mô cầu khuẩn nhóm A,C,Y,W-135 thế hệ mới của Pfizer (Mỹ) Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3
Viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi do não mô cầu khuẩn nhóm A,C,Y,W-135 (Sanofi) Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Mũi nhắc
Viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi do não mô cầu khuẩn nhóm B Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 Nếu chưa tiêm ở giai đoạn trước, trẻ cần tiêm 2 mũi cách nhau 1 tháng
Viêm màng não, nhiễm khuẩn huyết, viêm phổi do não mô cầu khuẩn nhóm B, C Mũi 1 Mũi 2
Cúm mùa Mũi 1 Mũi 2 Tiêm nhắc 1 mũi mỗi năm
Viêm não Nhật Bản (Vắc xin sống giảm độc lực, tái tổ hợp) Mũi 1 Mũi 2
Viêm não Nhật Bản (Vắc xin bất hoạt) Mũi 1 + Mũi 2 Mũi 3
Sởi, quai bị, rubella (Vắc xin Priorix) Mũi 1 Mũi 2 Mũi 3 (khuyến cáo)
Sởi, quai bị, rubella (MMR II) Mũi 0 (tiêm khi có dịch) Mũi 1 Mũi 2
Sởi, quai bị, rubella, thủy đậu (Proquad) Mũi 1 Mũi 2
Thủy đậu Mũi 1 Mũi 2
Viêm gan A Mũi 1 Mũi 2
Viêm gan A + B Mũi 1 Mũi 2
Thương hàn 1 mũi, tiêm nhắc mỗi 3 năm
Tả Uống 2 liều cách nhau tối thiểu 2 tuần
Sốt xuất huyết 2 mũi cách nhau 3 tháng
Dại Tiêm dự phòng trước phơi nhiễm 3 mũi và các mũi nhắc (đối với người có nguy cơ cao). Tiêm bắt buộc khi phơi nhiễm (3–5 mũi nếu chưa từng tiêm dự phòng, tùy thuộc vào tình trạng động vật cắn và đường tiêm…, 2 mũi nếu đã tiêm dự phòng).

(Nguồn: VNVC)

Lưu ý: Bảng tiêm phòng trên chỉ mang tính tham khảo. Lịch tiêm của mỗi trẻ có thể khác nhau tùy loại vắc xin, độ tuổi bắt đầu tiêm, các mũi đã được tiêm trước đó và tình trạng sức khỏe. Một số vắc xin phối hợp chứa nhiều thành phần phòng bệnh nên có thể thay thế các vắc xin đơn tương ứng. Vì vậy, bố mẹ không nên cộng dồn tất cả các mũi trong bảng. Nếu trẻ tiêm chậm hoặc còn thiếu mũi, bố mẹ nên mang sổ tiêm chủng đến cơ sở tiêm để được kiểm tra và sắp xếp lịch tiêm bù phù hợp. Thông thường, trẻ không cần tiêm lại từ đầu những mũi đã được tiêm đúng trước đó.

>>> Tham khảo thêm:

Các mũi tiêm phòng cho bé từ 0 - 12 tháng đầu

Ở từng giai đoạn phát triển, trẻ sẽ được tiêm những loại vắc-xin khác nhau, phù hợp với độ tuổi. Sau đây là các mũi tiêm phòng cho bé theo tháng từ 0-24 tháng tuổi.

1. Giai đoạn trẻ sơ sinh trong tuần đầu sau sinh

Trong những ngày sau sinh, đặc biệt là 24 giờ đầu, trẻ cần được tiêm vắc xin viêm gan B và vắc xin phòng bệnh lao BCG:

  • Vắc xin viêm gan B: Trẻ nên được tiêm càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng 24 giờ đầu sau sinh. Mũi vắc xin này giúp giảm nguy cơ lây truyền virus viêm gan B từ mẹ sang con trong quá trình sinh và hạn chế nguy cơ nhiễm virus trong những năm đầu đời.
  • Vắc xin phòng bệnh lao BCG: Trẻ được tiêm 1 mũi, tốt nhất ngay sau sinh hoặc sớm nhất có thể và nên hoàn thành trong tháng đầu đời. Vắc xin BCG giúp bảo vệ trẻ trước các thể lao nặng, đặc biệt là lao màng não và lao kê.

Trường hợp mẹ nhiễm viêm gan B, trẻ cần được tiêm vắc xin viêm gan B và globulin miễn dịch kháng viêm gan B (HBIG) tại hai vị trí khác nhau, càng sớm càng tốt và trong vòng 12 giờ sau sinh. Sau đó, trẻ cần tiếp tục tiêm đủ các liều vắc xin viêm gan B theo lịch khuyến nghị.

2. Giai đoạn 6 tuần đến 2 tháng tuổi

Từ 6 tuần tuổi, trẻ có thể bắt đầu sử dụng một số vắc xin cơ bản. Thời điểm tiêm hoặc uống cụ thể phụ thuộc vào loại vắc xin, chương trình tiêm chủng, sản phẩm được sử dụng và tiền sử tiêm chủng của trẻ.

  • Vắc xin phối hợp phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và bệnh do Hib: Trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng, trẻ được tiêm liều vắc xin 5 trong 1 đầu tiên khi đủ 2 tháng tuổi. Nếu lựa chọn tiêm chủng dịch vụ, trẻ có thể sử dụng vắc xin 6 trong 1 có thêm thành phần phòng bại liệt. Một số vắc xin 6 trong 1 được chỉ định cho trẻ từ 6 tuần tuổi. Không tiêm đồng thời vắc xin 5 trong 1 và 6 trong 1 để hoàn thành cùng một liều vì hai loại có nhiều thành phần phòng bệnh trùng nhau, có thể dẫn đến tiêm lặp kháng nguyên không cần thiết.
  • Vắc xin bại liệt: Trẻ có thể bắt đầu uống vắc xin bại liệt từ khi đủ 2 tháng tuổi. Trường hợp sử dụng vắc xin 6 trong 1, trẻ đã được nhận thành phần phòng bại liệt bất hoạt IPV qua đường tiêm. Vì vậy, các liều vắc xin bại liệt tiếp theo cần được sắp xếp dựa trên tuổi của trẻ, loại và số liều vắc xin đã sử dụng cũng như lịch tiêm chủng hiện hành.
  • Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus: Trẻ được uống liều đầu khi đủ 2 tháng tuổi, liều thứ hai cách liều đầu ít nhất 4 tuần và nên hoàn thành đủ hai liều trước 6 tháng tuổi. Một số vắc xin Rota được sử dụng tại cơ sở tiêm chủng dịch vụ có thể bắt đầu từ 6 tuần tuổi. Vắc xin Rota có giới hạn độ tuổi bắt đầu và hoàn thành phác đồ. Nếu bỏ lỡ thời điểm phù hợp, trẻ có thể không còn đủ điều kiện sử dụng một số loại vắc xin. Vì vậy bố mẹ nên cho trẻ uống đúng lịch.
  • Vắc xin phòng bệnh viêm màng não, viêm phổi, viêm tai giữa do phế cầu: Theo lịch tiêm chủng do Bộ Y tế ban hành, trẻ có thể tiêm liều đầu khi đủ 2 tháng tuổi và liều thứ hai cách liều đầu ít nhất 2 tháng. Vắc xin phế cầu được triển khai trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng theo lộ trình tại từng địa phương. Một số địa phương đang triển khai miễn phí theo lộ trình, tuy vậy việc cung ứng miễn phí còn phụ thuộc vào kế hoạch triển khai và nguồn vắc xin tại nơi trẻ sinh sống.

>>Tham khảo:

3. Giai đoạn trẻ 3 tháng tuổi

Ở giai đoạn 3–4 tháng tuổi, trẻ cần tiếp tục tiêm các mũi nhắc để củng cố miễn dịch đã hình thành từ những liều đầu tiên. Việc hoàn thành đầy đủ các mũi trong phác đồ giúp cơ thể tạo đáp ứng miễn dịch bền vững hơn và duy trì hiệu quả bảo vệ trước nhiều bệnh truyền nhiễm:

  • Vắc xin phối hợp 5 trong 1: Trẻ được tiêm liều thứ hai để phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và bệnh do Hib. Nếu sử dụng vắc xin 6 trong 1, trẻ tiếp tục tiêm theo loại vắc xin và lịch đã bắt đầu.
  • Vắc xin bại liệt: Trẻ uống liều vắc xin bại liệt thứ hai, thường cách liều đầu khoảng 1 tháng. Nếu trẻ sử dụng vắc xin 6 trong 1 có thành phần bại liệt bất hoạt, lịch tiêm hoặc uống tiếp theo cần được sắp xếp dựa trên loại vắc xin và các liều trẻ đã sử dụng.
  • Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus: Trẻ có thể uống liều tiếp theo nếu đã uống liều đầu và bảo đảm khoảng cách tối thiểu 4 tuần. Số liều và độ tuổi cần hoàn thành phụ thuộc vào loại vắc xin được sử dụng, vì vậy bố mẹ cần tiếp tục theo đúng lịch của sản phẩm đã bắt đầu.
  • Vắc xin phòng bệnh viêm màng não, viêm phổi, viêm tai giữa do phế cầu: Trẻ có thể được tiêm liều tiếp theo khi đủ 3 tháng tuổi hoặc muộn hơn, tùy loại vắc xin và phác đồ đã bắt đầu. Một số phác đồ cho phép các liều cơ bản cách nhau tối thiểu 4 tuần, trong khi một số lịch khác tiêm vào các mốc 2, 4 và 6 tháng tuổi.
các mũi tiêm phòng cho bé theo tháng 3 tuổi

Trẻ 3 tháng tuổi tiếp tục tiêm hoặc uống các liều vắc xin đã bắt đầu trước đó (Nguồn: Sưu tầm)

>> Tham khảo:

4. Giai đoạn trẻ 4 tháng tuổi

Khi đủ 4 tháng tuổi, trẻ tiếp tục hoàn thành các liều vắc xin cơ bản đã bắt đầu trước đó:

  • Vắc xin phối hợp 5 trong 1: Trẻ được tiêm liều thứ ba để phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B và bệnh do vi khuẩn Hib. Nếu đã sử dụng vắc xin 6 trong 1, trẻ tiếp tục tiêm theo loại vắc xin và phác đồ đã bắt đầu.
  • Vắc xin bại liệt: Theo lịch tiêm chủng tại Việt Nam, trẻ uống liều OPV thứ ba khi đủ 4 tháng tuổi. Trường hợp trẻ sử dụng vắc xin phối hợp có thành phần bại liệt, lịch tiêm hoặc uống tiếp theo cần được sắp xếp dựa trên tiền sử tiêm chủng.
  • Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus: Trẻ có thể uống liều tiếp theo nếu chưa hoàn thành phác đồ, còn trong độ tuổi sử dụng và đã bảo đảm khoảng cách giữa các liều theo loại vắc xin. Vắc xin Rotavin gồm 2 liều, liều thứ hai cách liều đầu 1–2 tháng và cần hoàn thành trước khi trẻ đủ 6 tháng tuổi. Các vắc xin Rota khác có thể sử dụng phác đồ 2 hoặc 3 liều, với giới hạn tuổi và khoảng cách giữa các liều khác nhau tùy sản phẩm.
  • Vắc xin phòng bệnh viêm màng não, viêm phổi, viêm tai giữa do phế cầu: Trẻ có thể tiêm liều tiếp theo khi đủ 4 tháng tuổi nếu đã tiêm liều đầu lúc 2 tháng và đang theo phác đồ có các mốc 2, 4 và 6 tháng. Lịch tiêm cụ thể phụ thuộc vào loại vắc xin, phác đồ áp dụng và tiền sử tiêm chủng của trẻ.

Lưu ý: Bố mẹ nên mang theo sổ tiêm chủng để kiểm tra các liều vắc xin trẻ đã sử dụng, nhất là khi chuyển đổi giữa vắc xin 5 trong 1, 6 trong 1 hoặc các loại vắc xin Rota và phế cầu khác nhau.

>>Tham khảo:

5. Giai đoạn trẻ 6 tháng tuổi

Trong những tháng đầu đời, trẻ nhận được một phần kháng thể từ mẹ qua nhau thai. Lượng kháng thể này giảm dần theo thời gian, trong khi hệ miễn dịch của trẻ vẫn đang tiếp tục hoàn thiện. Vì vậy, trẻ cần được tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch để hình thành miễn dịch chủ động, duy trì khả năng bảo vệ trước các bệnh truyền nhiễm.

  • Vắc xin cúm mùa: Trẻ có thể bắt đầu tiêm vắc xin cúm từ 6 tháng tuổi. Trẻ từ 6 tháng đến 8 tháng tuổi chưa từng tiêm hoặc chưa nhận đủ số liều vắc xin cúm trước đó có thể cần 2 liều cách nhau ít nhất 4 tuần. Sau đó, trẻ nên được tiêm vắc xin cúm hằng năm theo khuyến nghị và hướng dẫn của sản phẩm được sử dụng.
  • Vắc xin viêm màng não do não mô cầu nhóm B và C: Trẻ từ đủ 6 tháng tuổi có thể bắt đầu tiêm vắc xin VA-MENGOC-BC để phòng bệnh não mô cầu xâm lấn do nhóm B và C. Phác đồ cơ bản gồm 2 mũi, mũi thứ hai cách mũi đầu từ 6–8 tuần. Đây là vắc xin tiêm theo nhu cầu, không phải mũi tiêm bắt buộc cố định cho tất cả trẻ ở đúng mốc 6 tháng tuổi.
  • Vắc xin phòng bệnh viêm màng não, viêm phổi, viêm tai giữa do phế cầu: Một số phác đồ vắc xin phế cầu có liều cơ bản tại các mốc 2, 4 và 6 tháng tuổi. Tuy nhiên, lịch cụ thể phụ thuộc vào loại vắc xin, tuổi bắt đầu và phác đồ đang áp dụng. Vắc xin phế cầu trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng tại Việt Nam được triển khai theo lộ trình tại từng địa phương.
  • Vắc xin phối hợp 6 trong 1: Một số phác đồ sử dụng các mốc 2, 4 và 6 tháng, nên trẻ có thể được tiêm liều thứ ba ở giai đoạn này. Nếu trẻ đã hoàn thành 3 liều cơ bản theo lịch 2, 3 và 4 tháng thì thường không cần tiêm thêm một liều cơ bản chỉ vì đã đủ 6 tháng tuổi. Lịch tiếp theo cần căn cứ vào loại vắc xin và các liều trẻ đã tiêm.
  • Vắc xin phòng bệnh tiêu chảy cấp do Rotavirus: Một số vắc xin Rota có phác đồ 3 liều tại các mốc 2, 4 và 6 tháng, nên trẻ có thể uống liều thứ ba ở giai đoạn này. Tuy nhiên, thời điểm uống và giới hạn tuổi hoàn thành phác đồ khác nhau tùy sản phẩm. Vắc xin Rota có thể gồm phác đồ 2 hoặc 3 liều, vì vậy cần thực hiện theo đúng loại vắc xin trẻ đã sử dụng.

Xem thêm:

6. Giai đoạn bé 9 tháng tuổi

Khi đủ 9 tháng tuổi, trẻ bước vào một mốc tiêm chủng quan trọng, đặc biệt là vắc xin phòng sởi. Bố mẹ nên kiểm tra sổ tiêm để bảo đảm trẻ được tiêm đúng lịch và bổ sung các mũi còn thiếu nếu có.

  • Vắc xin sởi: Trẻ được tiêm mũi vắc xin phòng sởi đầu tiên khi đủ 9 tháng tuổi. Đây là mũi tiêm quan trọng giúp tạo miễn dịch ban đầu trước bệnh sởi. Sau đó, trẻ vẫn cần tiêm các liều vắc xin có thành phần sởi tiếp theo theo lịch khuyến nghị để duy trì và tăng hiệu quả bảo vệ.
  • Vắc xin bại liệt bất hoạt IPV: Tùy theo lịch tiêm chủng đang áp dụng và tiền sử tiêm trước đó, trẻ có thể được tiêm liều IPV tiếp theo ở mốc 9 tháng. Nếu trẻ chưa tiêm đủ các liều bại liệt trước đó, lịch tiêm bù sẽ được sắp xếp dựa trên số liều đã sử dụng và khoảng cách tối thiểu giữa các mũi.
  • Vắc xin cúm mùa: Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên có thể tiêm vắc xin cúm. Trẻ tiêm cúm lần đầu thường cần 2 liều cách nhau ít nhất 4 tuần, sau đó tiêm nhắc lại hằng năm bằng loại vắc xin phù hợp với độ tuổi.
  • Các vắc xin tiêm bù: Nếu trẻ chưa hoàn thành các liều vắc xin phối hợp 5 trong 1 hoặc 6 trong 1, phế cầu, viêm gan B, Hib hay bại liệt, bố mẹ nên đưa trẻ đi tiêm bù. Trẻ tiêm chậm thường không cần bắt đầu lại toàn bộ phác đồ mà tiếp tục các liều còn thiếu theo lịch phù hợp.

Lưu ý: Các mũi tiêm ở mốc 9 tháng có thể khác nhau tùy loại vắc xin đã sử dụng, tiền sử tiêm chủng và chương trình triển khai tại địa phương. Bố mẹ nên mang theo sổ tiêm chủng để được kiểm tra và sắp xếp lịch tiêm phù hợp cho trẻ.

>>> Xem thêm:

7. Giai đoạn trẻ 12 tháng tuổi

Khi đủ 12 tháng tuổi, trẻ bắt đầu tiêm vắc xin phòng viêm não Nhật Bản theo lịch tiêm chủng thường quy tại Việt Nam. Trẻ cũng có thể được tiêm thêm một số vắc xin khác, tùy loại vắc xin, phác đồ đã bắt đầu và hình thức tiêm chủng.

  • Vắc xin viêm não Nhật Bản: Viêm não Nhật Bản là bệnh truyền nhiễm lưu hành tại nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam. Theo lịch tiêm chủng tại Việt Nam, trẻ được tiêm liều đầu khi đủ 1 tuổi. Với vắc xin viêm não Nhật Bản sử dụng trong Chương trình Tiêm chủng mở rộng, liều thứ hai được tiêm sau liều đầu 1–2 tuần và liều thứ ba được tiêm sau liều đầu 1 năm. Lịch tiêm có thể khác nếu trẻ sử dụng loại vắc xin viêm não Nhật Bản khác.
  • Vắc xin phòng bệnh viêm màng não, viêm phổi, viêm tai giữa do phế cầu: Một số phác đồ vắc xin phế cầu có liều nhắc trong giai đoạn 12–15 tháng tuổi, tùy loại vắc xin và các liều trẻ đã tiêm trước đó. Trẻ từ 12 đến dưới 24 tháng tuổi chưa từng tiêm vắc xin phế cầu có thể tiêm 2 liều, cách nhau ít nhất 2 tháng. Việc cung ứng vắc xin miễn phí phụ thuộc vào kế hoạch triển khai tại từng thời điểm và địa phương.
  • Vắc xin sởi – quai bị – rubella: Một số vắc xin phối hợp sởi – quai bị – rubella có thể được tiêm cho trẻ từ 12 tháng tuổi, tùy loại vắc xin và hướng dẫn sử dụng của sản phẩm.
  • Vắc xin thủy đậu: Trẻ có thể bắt đầu tiêm từ 12 tháng tuổi đối với nhiều loại vắc xin thủy đậu. Số liều và khoảng cách giữa các liều phụ thuộc vào loại vắc xin được sử dụng. Mặc dù đa số trẻ mắc thủy đậu sẽ hồi phục, bệnh vẫn có nguy cơ gây biến chứng như nhiễm trùng da, viêm phổi,... ở một số trường hợp. Tiêm phòng vẫn là biện pháp phòng bệnh chủ động được khuyến nghị.
  • Vắc xin viêm gan A: Trẻ từ 12 tháng tuổi có thể bắt đầu tiêm một số vắc xin viêm gan A. Nhiều loại sử dụng phác đồ 2 liều, nhưng số liều và khoảng cách cần thực hiện theo hướng dẫn của từng sản phẩm.
  • Vắc xin cúm mùa: Virus cúm có khả năng thay đổi theo từng năm, vì vậy trẻ cần được tiêm nhắc vắc xin cúm hằng năm để duy trì khả năng bảo vệ trước các chủng virus mới. Trẻ từ 6 tháng đến 8 tuổi chưa từng tiêm hoặc chưa nhận đủ số liều vắc xin cúm trước đó có thể cần 2 liều cách nhau ít nhất 4 tuần.
  • Các vắc xin tiêm bù: Nếu trẻ còn thiếu các liều vắc xin phòng viêm gan B, bạch hầu, ho gà, uốn ván, Hib, bại liệt hoặc phế cầu, lịch tiêm bù được sắp xếp theo tuổi và tiền sử tiêm chủng. Trẻ tiêm chậm thường không cần bắt đầu lại toàn bộ phác đồ.

>>Tham khảo:

các mũi tiêm phòng cho trẻ 12 tháng tuổi

Trẻ 12 tháng tuổi bắt đầu tiêm vắc xin viêm não Nhật Bản và có thể tiêm thêm các vắc xin khác theo lịch đã bắt đầu (Nguồn: Sưu tầm)

8. Giai đoạn 15 - 24 tháng tuổi

Trong giai đoạn từ 15–24 tháng tuổi, trẻ cần tiêm một số liều nhắc lại hoặc tiếp tục các phác đồ đã bắt đầu trước đó. Các mũi tiêm cụ thể phụ thuộc vào tiền sử tiêm chủng, loại vắc xin đã sử dụng và lịch tiêm đang áp dụng.

  • Vắc xin phòng bạch hầu, ho gà và uốn ván: Trẻ được tiêm liều DPT nhắc lại, thường gọi là DPT mũi 4, khi đủ 18 tháng tuổi. Liều này cần cách liều cơ bản thứ ba ít nhất 6 tháng. Nếu tiêm chậm, trẻ có thể được tiêm bù bằng loại vắc xin phù hợp với độ tuổi và hướng dẫn của cơ sở tiêm chủng.
  • Vắc xin sởi – rubella: Trẻ được tiêm vắc xin sởi – rubella khi đủ 18 tháng tuổi. Đây là liều vắc xin chứa thành phần sởi thứ hai trong lịch tiêm chủng thường quy tại Việt Nam, đồng thời giúp phòng bệnh rubella.
  • Vắc xin viêm não Nhật Bản: Với vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt theo phác đồ ba liều, trẻ được tiêm liều đầu khi đủ 12 tháng tuổi, liều thứ hai sau liều đầu 1–2 tuần và liều thứ ba sau liều thứ hai 1 năm. Nếu bắt đầu đúng lịch, trẻ thường nhận liều thứ ba khi khoảng 24 tháng tuổi và thêm 1–2 tuần. Các loại vắc xin viêm não Nhật Bản khác có thể áp dụng phác đồ khác.
  • Vắc xin viêm gan A: Trẻ có thể bắt đầu hoặc tiếp tục phác đồ vắc xin viêm gan A trong giai đoạn này. Vắc xin thường được tiêm theo phác đồ hai liều. Khoảng cách giữa các liều cần thực hiện theo hướng dẫn của từng sản phẩm, thường từ 6 tháng trở lên.
  • Vắc xin thủy đậu: Trẻ chưa tiêm có thể bắt đầu tiêm vắc xin thủy đậu từ 12 tháng tuổi. Nếu đã tiêm liều đầu, thời điểm tiêm liều tiếp theo phụ thuộc vào loại vắc xin, hướng dẫn sử dụng và lịch tiêm đang áp dụng.
  • Vắc xin cúm mùa: Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên có thể tiêm vắc xin cúm hằng năm. Trẻ chưa từng tiêm cúm hoặc chưa từng nhận đủ hai liều trước đó thường cần tiêm hai liều cách nhau ít nhất 4 tuần trong lần tiêm đầu.
  • Các vắc xin tiêm bù hoặc nhắc lại khác: Tùy tiền sử tiêm chủng, trẻ có thể cần tiêm tiếp vắc xin phế cầu, sởi – quai bị – rubella hoặc các liều còn thiếu của vắc xin phòng viêm gan B, Hib và bại liệt. Khi tiêm chậm, trẻ thường không phải bắt đầu lại toàn bộ phác đồ mà tiếp tục các liều còn thiếu theo độ tuổi và khoảng cách phù hợp.

>>> Xem thêm: Bệnh nấm lưỡi ở trẻ: Dấu hiệu và cách điều trị

9. Giai đoạn đủ 24 tháng tuổi

Khi khoảng 24 tháng tuổi, trẻ có thể cần tiêm liều thứ ba vắc xin viêm não Nhật Bản và hoàn thành một số phác đồ đã bắt đầu trước đó. Bố mẹ nên kiểm tra sổ tiêm chủng hoặc dữ liệu tiêm chủng của trẻ để xác định những liều còn thiếu và thời điểm tiêm phù hợp.

  • Vắc xin viêm não Nhật Bản: Với vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt theo phác đồ ba liều trong lịch tiêm chủng thường quy tại Việt Nam, trẻ được tiêm liều đầu khi đủ 1 tuổi, liều thứ hai sau liều đầu 1–2 tuần và liều thứ ba sau liều đầu 1 năm. Vì vậy, nếu tiêm liều đầu đúng lúc 12 tháng tuổi, trẻ thường nhận liều thứ ba vào khoảng 24 tháng tuổi. Nếu tiêm chậm, liều thứ ba cần cách liều đầu ít nhất 1 năm và cách liều thứ hai ít nhất 1 tháng.
  • Vắc xin viêm gan A: Trẻ đã tiêm liều đầu trước đó có thể tiêm liều tiếp theo trong giai đoạn này nếu đã đủ khoảng cách theo hướng dẫn của loại vắc xin được sử dụng. Trẻ chưa từng tiêm cũng có thể bắt đầu tiêm theo độ tuổi được chỉ định của sản phẩm và tư vấn của cơ sở tiêm chủng.
  • Vắc xin thủy đậu: Trẻ có thể bắt đầu tiêm nếu chưa được tiêm hoặc tiêm liều tiếp theo nếu đã nhận liều đầu. Thời điểm và khoảng cách giữa các liều phụ thuộc vào loại vắc xin, hướng dẫn sử dụng của sản phẩm và lịch tiêm đang áp dụng.
  • Vắc xin cúm mùa: Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên nên tiêm vắc xin cúm hằng năm. Trẻ từ 6 tháng đến 8 tuổi chưa từng tiêm hoặc chưa từng nhận đủ ít nhất hai liều cúm trước đó thường cần hai liều trong mùa tiêm đầu tiên, cách nhau ít nhất 4 tuần.
  • Các vắc xin tiêm bù: Nếu trẻ còn thiếu các liều phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, viêm gan B, Hib, bại liệt, sởi, rubella hoặc phế cầu, cơ sở tiêm chủng sẽ lập lịch tiêm bù dựa trên tuổi, tiền sử tiêm chủng, tình trạng sức khỏe và khoảng cách tối thiểu giữa các liều. Trẻ tiêm chậm thường không cần bắt đầu lại toàn bộ phác đồ mà tiếp tục các liều còn thiếu theo lịch phù hợp.

>>> Xem thêm:

10. Giai đoạn trẻ từ 3 tuổi trở lên

Từ 3 tuổi trở lên, nếu đã hoàn thành đầy đủ lịch tiêm trong những năm đầu đời, trẻ thường không có nhiều mũi tiêm cố định ở đúng mốc 3 tuổi. Các vắc xin cần sử dụng tiếp theo chủ yếu là liều nhắc lại, vắc xin tiêm hằng năm hoặc những liều còn thiếu theo tiền sử tiêm chủng.

  • Vắc xin viêm não Nhật Bản: Sau khi hoàn thành phác đồ cơ bản, trẻ có thể cần tiêm nhắc lại tùy loại vắc xin đã sử dụng. Với một số vắc xin viêm não Nhật Bản bất hoạt theo phác đồ truyền thống, liều nhắc có thể được thực hiện khoảng 3 năm một lần theo hướng dẫn của sản phẩm và lịch tiêm đang áp dụng. Các loại vắc xin khác có thể có số liều và lịch nhắc lại khác.
  • Vắc xin cúm mùa: Trẻ từ 6 tháng tuổi trở lên nên tiếp tục tiêm vắc xin cúm hằng năm. Trẻ đã từng nhận đủ ít nhất hai liều cúm trước đó thường cần một liều trong mỗi mùa. Trẻ chưa từng nhận đủ hai liều có thể cần hai liều cách nhau ít nhất 4 tuần.
  • Vắc xin phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván và bại liệt: Tùy phác đồ và loại vắc xin đã sử dụng, trẻ có thể cần tiêm liều nhắc lại trong giai đoạn 4–6 tuổi. Một số lịch tiêm quốc tế và lịch tiêm dịch vụ áp dụng liều DTaP và IPV tiếp theo trong độ tuổi này. Tại Việt Nam, thời điểm tiêm cần được xác định dựa trên tiền sử tiêm chủng, loại vắc xin đã dùng và hướng dẫn của cơ sở tiêm chủng.
  • Vắc xin có thành phần sởi và vắc xin thủy đậu: Trẻ chưa nhận đủ hai liều vắc xin có thành phần sởi cần được xem xét tiêm bổ sung. Hai liều này có thể là vắc xin sởi đơn, sởi – rubella hoặc sởi – quai bị – rubella, tùy lịch đã áp dụng. Trẻ chưa tiêm đủ vắc xin thủy đậu cũng có thể được tiêm bổ sung theo độ tuổi, khoảng cách liều và hướng dẫn của sản phẩm.
  • Vắc xin HPV: Trẻ có thể bắt đầu tiêm vắc xin phòng HPV từ 9 tuổi. Số liều và khoảng cách giữa các liều phụ thuộc vào tuổi bắt đầu tiêm, tình trạng miễn dịch, loại vắc xin và hướng dẫn đang áp dụng. Ưu tiên tiêm HPV cho trẻ gái từ 9–14 tuổi, trước khi có nguy cơ tiếp xúc với vi rút.
  • Các vắc xin theo nguy cơ và nhu cầu: Tùy độ tuổi, tình trạng sức khỏe, môi trường sống, kế hoạch đi lại và nguy cơ phơi nhiễm, trẻ có thể được tư vấn thêm vắc xin não mô cầu, viêm gan A, phế cầu hoặc thương hàn. Vắc xin dại được chỉ định dự phòng trước phơi nhiễm cho một số nhóm nguy cơ hoặc tiêm sau khi trẻ bị động vật cắn, cào hay có tiếp xúc nghi ngờ với vi rút dại.
  • Các vắc xin tiêm bù: Nếu còn thiếu các liều phòng bạch hầu, ho gà, uốn ván, bại liệt, viêm gan B, sởi, rubella hoặc các bệnh khác, trẻ sẽ được lập lịch tiêm bù dựa trên tuổi, số liều đã tiêm và khoảng cách tối thiểu. Khi lịch tiêm bị gián đoạn, trẻ thường không cần bắt đầu lại toàn bộ phác đồ mà tiếp tục những liều còn thiếu theo lịch phù hợp.

Lưu ý:

  • Lịch tiêm cụ thể của mỗi trẻ có thể khác nhau tùy độ tuổi bắt đầu, tiền sử tiêm chủng, loại vắc xin đã sử dụng, tình trạng sức khỏe và chương trình triển khai tại từng địa phương. Một số vắc xin phối hợp chứa nhiều thành phần phòng bệnh trong cùng một mũi, vì vậy không nên cộng dồn tất cả các vắc xin trong lịch mà cần đối chiếu thành phần và các liều trẻ đã nhận.
  • Bố mẹ nên lưu giữ và mang theo sổ hoặc dữ liệu tiêm chủng khi đưa trẻ đến cơ sở y tế để được kiểm tra, xác định các mũi còn thiếu và lập lịch tiêm nhắc hoặc tiêm bù phù hợp. Khi lịch tiêm bị gián đoạn, trẻ thường không cần bắt đầu lại toàn bộ phác đồ mà tiếp tục những liều còn thiếu theo độ tuổi và khoảng cách khuyến nghị.

Trường hợp nào không được tiêm phòng cho trẻ?

Các trường hợp chống chỉ định tiêm vắc xin cho bé

Chống chỉ định thường chỉ áp dụng với loại vắc xin hoặc thành phần có liên quan, không có nghĩa là trẻ không được sử dụng tất cả các vắc xin. Một số trường hợp gồm:

  • Từng bị phản vệ độ III trở lên sau lần tiêm trước: Trẻ không tiếp tục tiêm vắc xin có cùng thành phần gây phản ứng.
  • Dị ứng nghiêm trọng với thành phần của vắc xin: Trẻ không sử dụng vắc xin chứa thành phần đã xác định gây phản ứng nghiêm trọng.
  • Có tiền sử lồng ruột: Chống chỉ định với vắc xin Rota.
  • Mắc suy giảm miễn dịch kết hợp nặng: Chống chỉ định với vắc xin Rota.
  • Mắc suy giảm miễn dịch bẩm sinh: Chống chỉ định với vắc xin bại liệt sống giảm độc lực dạng uống OPV. Trẻ có thể được chỉ định vắc xin bại liệt bất hoạt dạng tiêm IPV thay thế.
  • Có chống chỉ định riêng của từng loại vắc xin: Một số vắc xin có yêu cầu riêng liên quan đến bệnh nền, tình trạng miễn dịch, thành phần vắc xin hoặc phản ứng sau liều trước.

Trẻ suy giảm miễn dịch nặng do bệnh bẩm sinh, ung thư, hóa trị, ghép tế bào gốc, ghép tạng hoặc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch thường không được dùng một số vắc xin sống giảm độc lực. Tuy nhiên, mức độ hạn chế phụ thuộc vào loại vắc xin và tình trạng miễn dịch của trẻ. Các vắc xin bất hoạt nhìn chung vẫn có thể được sử dụng theo chỉ định, dù khả năng tạo miễn dịch có thể thấp hơn.

Các trường hợp cần tạm hoãn tiêm phòng cho trẻ

Tạm hoãn không có nghĩa là trẻ không được tiêm vắc xin về sau. Trẻ có thể được tiêm bù khi sức khỏe ổn định hoặc đã hết thời gian cần trì hoãn.

Một số trường hợp thường cần tạm hoãn như:

  • Trẻ đang mắc bệnh cấp tính hoặc bệnh nhiễm trùng có ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe.
  • Trẻ sốt từ 38°C trở lên hoặc hạ thân nhiệt từ 35,5°C trở xuống khi đo tại nách.
  • Trẻ đang suy hô hấp, suy tuần hoàn, suy tim, suy gan, suy thận, suy giảm ý thức hoặc có tình trạng cần cấp cứu.
  • Trẻ mới sử dụng globulin miễn dịch hoặc một số chế phẩm máu có chứa kháng thể. Việc tạm hoãn chủ yếu áp dụng với một số vắc xin sống giảm độc lực và thời gian hoãn phụ thuộc vào loại chế phẩm.
  • Trẻ đang hoặc mới điều trị bằng corticoid toàn thân liều cao, hóa trị, xạ trị hoặc thuốc ức chế miễn dịch trước khi sử dụng vắc xin sống giảm độc lực.
  • Trẻ mắc bệnh bẩm sinh hoặc bệnh mạn tính nhưng tình trạng bệnh chưa ổn định.
  • Trẻ đang bị tiêu chảy hoặc nôn ở mức độ vừa đến nặng trước khi uống vắc xin Rota.
  • Trẻ có rối loạn thần kinh tiến triển, co giật chưa kiểm soát hoặc bệnh não chưa ổn định trước khi tiêm vắc xin chứa thành phần ho gà.

Khi trẻ hồi phục hoặc bệnh nền đã được kiểm soát, bác sĩ sẽ đánh giá lại và sắp xếp lịch tiêm bù. Phần lớn vắc xin không cần tiêm lại từ đầu khi trẻ bị chậm lịch.

Tham khảo thêm:

trường hợp cần tạm hoãn tiêm phòng cho trẻ

Một số trường hợp trẻ cần tạm hoãn tiêm phòng cho đến khi sức khỏe ổn định và được bác sĩ đánh giá lại (Nguồn: Sưu tầm)

Trường hợp cần được bác sĩ đánh giá và tiêm tại bệnh viện

Một số trẻ không bị chống chỉ định hoàn toàn nhưng cần được khám sàng lọc, tiêm và theo dõi tại bệnh viện, chẳng hạn:

  • Trẻ từng bị phản vệ độ II sau lần tiêm trước với vắc xin có cùng thành phần.
  • Trẻ có tiền sử phản ứng với thuốc, sữa, thức ăn hoặc các dị nguyên khác.
  • Trẻ có phản ứng tăng dần sau các lần tiêm cùng loại vắc xin.
  • Trẻ nghi ngờ suy giảm miễn dịch, mắc suy giảm miễn dịch nặng hoặc có biểu hiện nghi ngờ nhiễm HIV cần được đánh giá.
  • Trẻ mắc bệnh bẩm sinh hoặc bệnh mạn tính ở tim, phổi, tiêu hóa, tiết niệu, máu, thần kinh hoặc ung thư nhưng tình trạng chưa ổn định.
  • Trẻ có cân nặng dưới 2.000 g.
  • Trẻ từng gặp phản ứng bất thường sau tiêm cần được bác sĩ đánh giá trước khi tiêm liều tiếp theo.

Trẻ sinh non hoặc nhẹ cân không mặc nhiên bị chống chỉ định tiêm chủng. Thời điểm và nơi tiêm sẽ được xác định dựa trên tuổi thai, cân nặng, tình trạng sức khỏe và loại vắc xin. Trong các trường hợp trên, bác sĩ sẽ cân nhắc tình trạng sức khỏe, lợi ích, nguy cơ, loại vắc xin và khả năng theo dõi sau tiêm trước khi đưa ra quyết định.

Hành trình chăm sóc bé yêu giờ đây sẽ trở nên nhẹ nhàng hơn bao giờ hết với tã bỉm từ Huggies — thương hiệu luôn thấu hiểu từng cử động nhỏ nhất của con. Mỗi dòng sản phẩm nổi bật là một lời cam kết về chất lượng và sự nâng niu tuyệt đối:

  • Huggies Skin Perfect: Đột phá công nghệ 2 vùng thấm giúp ngăn ngừa chất bẩn hoà trộn từ đó giảm kích ứng bảo vệ làn da non nớt tối ưu nhất.
  • Huggies Platinum Naturemade: Đẳng cấp từ sợi thiên nhiên nhập khẩu, mềm mại và lành tính chuẩn 5 sao, phù hợp với bé có làn da nhạy cảm.
  • Huggies Black Label: Dòng tã siêu cao cấp với thiết kế siêu mỏng nhẹ lõi 0.2cm, chất liệu sợi siêu mịn cùng công nghệ thấm hút Tunnel đem đến cảm giác êm ái cả ngày và khô thoáng vượt trội.

Dù bé đang ở giai đoạn nào, Huggies cũng có "trợ thủ" đắc lực riêng từ size NB đến XXL và cả những dòng tã ban đêm chuyên dụng. Khám phá ngay dòng sản phẩm phù hợp nhất với bé yêu của bạn nhé!

tã huggies skin perfect

Tã Huggies Skin Perfect với khả năng giảm đến 93% phân lỏng trên da bé (Nguồn: Huggies)

Kinh nghiệm đưa trẻ đi tiêm phòng ba mẹ cần biết

Chuẩn bị trước khi đưa trẻ đi tiêm

Để đảm bảo cho trẻ được tiêm chủng đúng lịch và phù hợp, trước khi đưa trẻ đi tiêm ba mẹ cần lưu ý:

  • Mang theo sổ tiêm chủng và giấy tờ cần thiết: Những thông tin này giúp bác sĩ kiểm tra các mũi trẻ đã tiêm, xác định mũi đang đến hạn và xây dựng lịch tiêm bù nếu trẻ bị thiếu hoặc chậm mũi.
  • Thông báo đầy đủ tình trạng sức khỏe của trẻ: Bố mẹ cần cho bác sĩ biết tình trạng ăn bú, ngủ, vui chơi, sốt, ho, nôn, tiêu chảy hoặc biểu hiện mệt mỏi trong những ngày gần đây.
  • Cung cấp tiền sử bệnh và dị ứng: Hãy thông báo nếu trẻ mắc bệnh bẩm sinh, bệnh mạn tính, suy giảm miễn dịch hoặc từng dị ứng với thuốc, thức ăn hay thành phần của vắc xin.
  • Kể lại các phản ứng sau những lần tiêm trước: Đặc biệt là tình trạng sốt cao, co giật, khó thở, nổi mề đay, sưng mặt hoặc phản vệ.
  • Thông báo các thuốc trẻ đang sử dụng: Bao gồm corticoid liều cao, thuốc ức chế miễn dịch, thuốc điều trị ung thư hoặc việc trẻ mới truyền máu, huyết tương hay dùng globulin miễn dịch.
  • Cho trẻ ăn hoặc bú bình thường: Không nên để trẻ quá đói nhưng cũng không cần ép trẻ ăn thật no. Với trẻ hay nôn trớ, bố mẹ có thể tránh cho ăn một lượng lớn ngay sát giờ tiêm.
  • Không tự ý cho trẻ sử dụng thuốc trước khi tiêm: Các loại thuốc phổ biến như thuốc hạ sốt hoặc thuốc chống dị ứng đều có khả năng tương tác với thành phần vắc xin, vì thế, bố mẹ không nên tự ý cho trẻ uống trước khi tiêm nếu không có chỉ định của bác sĩ.
  • Cho trẻ mặc quần áo rộng rãi: Trang phục thoải mái và dễ cởi giúp bác sĩ thuận tiện khám cũng như xác định vị trí tiêm.

Xem thêm:

Trong khi tiêm

Trong ngày tiêm, bố mẹ nên giúp trẻ nghỉ ngơi và giữ tâm lý thoải mái. Không cần bắt trẻ nằm hoặc ngồi yên hoàn toàn trước giờ tiêm, nhưng nên tránh để trẻ vận động đến mức quá mệt, quá nóng hoặc quấy khóc nhiều.

Bố mẹ cần lắng nghe và kiểm tra các thông tin quan trọng như:

  • Tên loại vắc xin trẻ được sử dụng.
  • Vắc xin phòng bệnh gì.
  • Đây là liều thứ mấy trong phác đồ.
  • Thời điểm dự kiến tiêm liều tiếp theo.
  • Những phản ứng thường gặp sau tiêm.
  • Cách chăm sóc và theo dõi trẻ tại nhà.
  • Những dấu hiệu cần đưa trẻ đến cơ sở y tế.

Nếu chưa hiểu rõ, bố mẹ có thể hỏi lại bác sĩ hoặc nhân viên tiêm chủng. Khi tiêm, nên ôm và giữ trẻ đúng tư thế theo hướng dẫn, trò chuyện nhẹ nhàng hoặc dùng đồ chơi để chuyển sự chú ý của trẻ.

Cách chăm sóc và theo dõi trẻ sau khi tiêm

Sau khi được tiêm vắc xin, cơ thể trẻ có thể sẽ có một số phản ứng nhất định do trẻ đang có phản ứng với các loại kháng nguyên trong vắc xin, lúc này ba mẹ cần lưu ý:

  • Cho trẻ ở lại cơ sở tiêm chủng ít nhất 30 phút: Đây là khoảng thời gian một số phản ứng dị ứng nghiêm trọng có thể xuất hiện sớm. Việc ở lại điểm tiêm giúp nhân viên y tế theo dõi và xử trí kịp thời nếu trẻ có biểu hiện bất thường.
  • Theo dõi trẻ tại nhà trong 24–48 giờ: Bố mẹ nên quan sát tinh thần, tình trạng ăn bú, giấc ngủ, nhịp thở, nhiệt độ, da, phát ban và vị trí tiêm. Theo dõi sát giúp phát hiện sớm những phản ứng bất thường hoặc biểu hiện kéo dài cần được bác sĩ kiểm tra.
  • Cho trẻ ăn bú và nghỉ ngơi bình thường: Trẻ bú mẹ nên tiếp tục được bú theo nhu cầu. Với trẻ lớn, bố mẹ có thể cho uống đủ nước và ăn các món quen thuộc, dễ tiêu. Việc duy trì ăn uống giúp trẻ được bổ sung năng lượng và hạn chế mất nước nếu có sốt nhẹ sau tiêm.
  • Giữ vị trí tiêm sạch và khô: Không xoa bóp, chườm nóng, bôi dầu, đắp lá hoặc bôi thuốc lên chỗ tiêm của trẻ. Những thao tác này có thể làm vùng tiêm bị kích ứng, sưng đau nhiều hơn hoặc tăng nguy cơ nhiễm trùng.
  • Ghi lại ngày tiêm và lịch hẹn tiếp theo: Bố mẹ nên lưu tên vắc xin, ngày tiêm, liều đã tiêm và thời điểm cần tiêm mũi tiếp theo. Việc ghi nhận các phản ứng sau tiêm cũng giúp bác sĩ có thêm thông tin để đánh giá và tư vấn phù hợp trong những lần tiêm sau.

Xem thêm:

Nên lựa chọn tiêm chủng mở rộng hay tiêm chủng dịch vụ cho trẻ?

Chương trình Tiêm chủng mở rộng được Bộ Y tế Việt Nam triển khai từ năm 1981, với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới, Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc và các đối tác. Chương trình cung cấp miễn phí các vắc xin thuộc danh mục cho trẻ em, phụ nữ mang thai và những nhóm đối tượng đủ điều kiện theo quy định.

Từ năm 2026, theo Kế hoạch Tiêm chủng mở rộng giai đoạn 2026–2028, các vắc xin trong chương trình được sử dụng để phòng 13 bệnh truyền nhiễm gồm:

  1. Viêm gan B.
  2. Lao.
  3. Bạch hầu.
  4. Ho gà.
  5. Uốn ván.
  6. Bại liệt.
  7. Bệnh do vi khuẩn Haemophilus influenzae týp b.
  8. Sởi.
  9. Rubella.
  10. Viêm não Nhật Bản.
  11. Tiêu chảy do vi rút Rota.
  12. Viêm phổi và viêm màng não do phế cầu.
  13. Bệnh do vi rút HPV, bao gồm nguy cơ ung thư cổ tử cung.

Tuy nhiên, không phải tất cả vắc xin trên đều được tiêm cho mọi trẻ ở cùng một độ tuổi. Đối tượng, lịch tiêm và phạm vi cung ứng miễn phí phụ thuộc vào hướng dẫn của Bộ Y tế, kế hoạch triển khai cũng như nguồn vắc xin tại từng địa phương. Một số vắc xin mới như Rota, phế cầu và HPV có thể được mở rộng theo lộ trình nên khả năng tiếp cận tại mỗi nơi có thể khác nhau.

Bên cạnh các vắc xin được cung cấp miễn phí, bố mẹ có thể cân nhắc tiêm dịch vụ để bổ sung những vắc xin chưa có trong chương trình hoặc chưa được triển khai tại địa phương, chẳng hạn:

  1. Vắc xin thủy đậu.
  2. Vắc xin sởi – quai bị – rubella.
  3. Vắc xin viêm gan A.
  4. Vắc xin phòng bệnh do não mô cầu với các nhóm huyết thanh phù hợp.
  5. Vắc xin cúm mùa.
  6. Vắc xin phòng dại khi có chỉ định dự phòng trước hoặc sau phơi nhiễm.
  7. Các vắc xin khác phù hợp với độ tuổi, nguy cơ mắc bệnh và tình trạng sức khỏe của trẻ.

Tiêm chủng dịch vụ có thể được thực hiện tại bệnh viện, trung tâm hoặc cơ sở tiêm chủng công lập và tư nhân đủ điều kiện. Việc một loại vắc xin được tiêm miễn phí hay có thu phí không quyết định vắc xin nào "tốt hơn". Mỗi loại cần được sử dụng đúng độ tuổi, đủ số liều và đúng khoảng cách theo hướng dẫn.

Bố mẹ có thể kết hợp tiêm chủng mở rộng và tiêm dịch vụ để hoàn thiện lịch tiêm cho trẻ. Khi chuyển giữa các loại vắc xin hoặc tiêm tại nhiều cơ sở, nên mang theo sổ tiêm chủng để bác sĩ kiểm tra thành phần, số liều đã tiêm và khoảng cách giữa các mũi. Không nên cộng dồn tất cả vắc xin trong hai danh sách vì một số vắc xin phối hợp có thể chứa thành phần trùng nhau. Điều quan trọng là trẻ được tiêm đầy đủ, đúng thời điểm và phù hợp với tình trạng sức khỏe, thay vì chỉ lựa chọn duy nhất tiêm chủng mở rộng hoặc tiêm chủng dịch vụ.

Xem thêm:

Câu hỏi thường gặp về "các mũi tiêm phòng cho bé theo tháng"

Trẻ sơ sinh có bắt buộc phải tiêm vắc xin không?

Trẻ sơ sinh cần được tiêm các vắc xin theo lịch tiêm chủng đang áp dụng, trong đó quan trọng nhất là vắc xin viêm gan B trong vòng 24 giờ sau sinh và vắc xin BCG phòng bệnh lao trong tháng đầu đời. Tiêm đúng lịch giúp bảo vệ trẻ trước những bệnh truyền nhiễm nguy hiểm khi hệ miễn dịch còn non yếu. Tuy nhiên, nếu trẻ có vấn đề sức khỏe hoặc thuộc trường hợp cần tạm hoãn, bác sĩ sẽ khám sàng lọc và hướng dẫn thời điểm tiêm bù phù hợp cho bé. Vì vậy, bố mẹ không nên tự ý bỏ tiêm mà cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được tư vấn và tiêm chủng an toàn.

Có nên mua gói tiêm chủng cho trẻ sơ sinh?

Có nên mua gói tiêm chủng cho trẻ sơ sinh hay không phụ thuộc vào nhu cầu và điều kiện của từng gia đình. Gói tiêm chủng có ưu điểm là giúp bố mẹ chủ động nguồn vắc xin, dễ theo dõi và được nhắc lịch, đồng thời có thể ổn định chi phí trong thời gian sử dụng. Tuy nhiên, bố mẹ thường phải thanh toán trước một khoản chi phí khá lớn và cần kiểm tra kỹ danh mục vắc xin để tránh trùng với các mũi trẻ đã tiêm hoặc được tiêm miễn phí. Trước khi mua, nên tìm hiểu rõ quy định về đổi vắc xin, hoàn tiền, thời hạn sử dụng và cách xử lý khi trẻ cần tạm hoãn tiêm. Dù mua gói hay tiêm từng mũi, điều quan trọng nhất vẫn là trẻ được khám sàng lọc và tiêm đúng loại, đủ liều, đúng lịch theo hướng dẫn của nhân viên y tế.

Bố mẹ cần thông báo gì trước khi trẻ tiêm phòng?

Trước khi trẻ tiêm phòng, bố mẹ cần thông báo cho nhân viên y tế về tình trạng sức khỏe hiện tại của trẻ, như sốt, ho, khó thở, nôn, tiêu chảy, bú kém hoặc đang mắc bệnh cấp tính. Bố mẹ cũng nên cung cấp đầy đủ tiền sử dị ứng, phản ứng bất thường sau những lần tiêm trước, các bệnh mạn tính hoặc bệnh liên quan đến tim, phổi, thần kinh và miễn dịch. Nếu trẻ đang dùng thuốc, đặc biệt là corticoid liều cao, thuốc ức chế miễn dịch, hóa trị hoặc vừa truyền máu, globulin miễn dịch, bố mẹ cần nói rõ để bác sĩ cân nhắc thời điểm tiêm phù hợp. Ngoài ra, nên mang theo sổ tiêm chủng và thông báo về tiền sử sinh non, cân nặng khi sinh hoặc các vấn đề sức khỏe sau sinh để trẻ được khám sàng lọc và tiêm chủng an toàn.

Trẻ sơ sinh tiêm mũi lao khi nào, tiêm xong có sốt không?

Trẻ sơ sinh cần được tiêm vắc xin BCG phòng bệnh lao càng sớm càng tốt sau khi sinh, ưu tiên trong tháng đầu nếu trẻ đủ điều kiện sức khỏe. Sau khi tiêm, một số ít trẻ có thể sốt nhẹ hoặc quấy khóc trong thời gian ngắn. Phản ứng thường gặp hơn là tại vị trí tiêm xuất hiện nốt đỏ hoặc mụn nhỏ sau khoảng 2–6 tuần, sau đó có thể tạo vết loét nông, đóng vảy và tự lành trong vài tháng, để lại sẹo nhỏ. Bố mẹ không nên nặn, chọc, bôi thuốc hoặc đắp bất kỳ chất gì lên vết tiêm. Nếu trẻ sốt cao, bỏ bú, li bì, khó thở, co giật hoặc vị trí tiêm sưng đỏ lan rộng, cần đưa trẻ đến cơ sở y tế để được kiểm tra.

Trẻ ho, sổ mũi hoặc cảm nhẹ có tiêm được không?

Trẻ bị ho, sổ mũi hoặc cảm nhẹ thường vẫn có thể tiêm phòng nếu trẻ tỉnh táo, ăn bú bình thường, không sốt cao và không có biểu hiện bệnh nặng. Những triệu chứng nhẹ này thường không ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoặc độ an toàn của vắc xin. Tuy nhiên, bố mẹ cần thông báo đầy đủ tình trạng của trẻ để nhân viên y tế khám sàng lọc trước khi tiêm. Nếu trẻ sốt cao, mệt nhiều, khó thở, thở khò khè, bú kém, nôn nhiều hoặc đang mắc bệnh mức độ vừa đến nặng, bác sĩ có thể chỉ định tạm hoãn tiêm cho đến khi sức khỏe ổn định.

Tiêm phòng cho trẻ sơ sinh tại trạm y tế gồm những mũi nào được miễn phí?

Theo Chương trình Tiêm chủng mở rộng, trẻ sơ sinh được tiêm miễn phí vắc xin viêm gan B liều sơ sinh và vắc xin BCG phòng lao. Khi lớn hơn, trẻ tiếp tục được tiêm miễn phí các vắc xin như 5 trong 1, bại liệt, sởi, sởi - rubella, viêm não Nhật Bản và các mũi nhắc bạch hầu – ho gà – uốn ván theo lịch. Danh mục và lịch tiêm có thể thay đổi tùy địa phương và nguồn cung vắc xin.

Tiêm chủng cho trẻ sai hoặc chậm lịch có sao không?

Tiêm chủng chậm lịch có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc xin. Tuy nhiên, đa số trường hợp không cần tiêm lại từ đầu mà chỉ cần tiêm bù các mũi còn thiếu theo hướng dẫn của nhân viên y tế. Bố mẹ nên mang sổ hoặc dữ liệu tiêm chủng của trẻ đến cơ sở y tế để được tư vấn lịch tiêm phù hợp.

Tiêm chủng đầy đủ và đúng lịch giúp bảo vệ trẻ trước nhiều bệnh truyền nhiễm nguy hiểm. Trước khi tiêm, trẻ cần được khám sàng lọc và bố mẹ nên thông báo tình trạng sức khỏe, tiền sử dị ứng hoặc phản ứng sau các lần tiêm trước để bác sĩ tư vấn phù hợp.

Ngoài ra, mẹ có thể tìm hiểu thêm các kiến thức hữu ích tại chuyên mục Chăm sóc bé hoặc gửi câu hỏi đến Huggies để được giải đáp.

Nguồn tham khảo:

Kimberly-Clark VN không đảm bảo hoặc cam kết về tính đầy đủ hoặc chính xác của thông tin này. Thông tin chỉ mang tính chất tham khảo và không thay thế cho lời khuyên từ chuyên gia y tế hoặc chuyên gia chăm sóc sức khỏe.